Home » Thoái hóa khớp » Nguyên nhân và biểu hiện » Nhận biết viêm khớp dạng thấp và thoái hóa khớp

Nhận biết viêm khớp dạng thấp và thoái hóa khớp

Nhận biết viêm khớp dạng thấp và thoái hóa khớp

Benhtuoigia.com - Viêm khớp dạng thấp và thoái hóa khớp là hai thể bệnh khớp thường gặp. Cùng có biểu hiện là viêm (sưng, nóng, đỏ, đau) ở khớp, song hai bệnh này có những đặc điểm khác nhau về nguyên nhân, một số triệu chứng, cách chẩn đoán và điều trị. Dưới đây là bảng so sánh một số đặc điểm của hai bệnh này.

 

 Đặc điểm

Viêm khớp dạng thấp

Thoái hóa khớp

Đối tượng Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý tự miễn hệ thống, gặp ở mọi lứa tuổi Thường gặp ở người lớn tuổi
Yếu tố nguy cơ Virus, vi khuẩn, yếu tố di truyền Phụ nữ thường gặp hơn nam giới  Tuổi, giới, di truyền, béo phì hoặc phải lao động nặng nhọc
Một số triệu chứng
Đau khớp - Lớp bao hoạt dịch của khớp bị viêm- Vị trí khớp viêm: thường gặp ở các khớp nhỏ bàn tay (cổ tay, khớp liên đốt gần bàn tay, khớp bàn- ngón tay), khớp khuỷu, gối, cổ chân. Các khớp háng, cột sống, khớp vai, khớp ức đòn ít gặp, nếu có viêm các khớp này cũng thường xảy ra ở giai đoạn muộn- Viêm rõ (sưng, đau, nóng, đỏ)- Viêm đau đối xứng (khớp này sưng thì khớp đó bên nửa kia cơ thể cũng sưng) - Sụn khớp bị phá hủy, biến dạng đầu xương, hình thành gai xương- Vị trí khớp viêm: bàn tay, bàn chân, khớp vai, khớp gối, khớp cột sống và khớp háng 

 

 

– Đau khớp khu trú ở vị trí thoái hóa, không kèm biểu hiện viêm

– Đau cơ giới tức làđau khi vận động, giảm đau khi nghỉ ngơi và có cảm giác lạo xạo khi cử động khớp

Hạn chế vận động Cứng khớp buổi sáng rõ (thường kéo dài trên 1-2 giờ, thậm chí cả ngày) Hạn chế vận động do phản xạ co cứng cơ (sau 15- 30 phút vận động được)
Biến dạng khớp Ngón tay hình thoi, bàn tay gió thổi, ngón tay cổ thiên nga, khớp gối dính ở tư thế nửa co….. Thường không biến dạng nhiềuCó thể là mọc gai xương, lệch trục khớp, thoát vị màng hoạt dịch
Dấu hiệu khác - Toàn thân: Ăn ngủ kém, gầy sútmệt mỏi, xanh xao, sốt, khô mắt và miệng, nốt cứng mọc bên dưới da bàn tay hoặc khuỷu tay, nhịp thở ngắn hoặc đau ngực Toàn thân không có gì đặc biệt
Chẩn đoán - Cứng khớp buổi sáng: kéo dài ít nhất 1 giờ- Sưng đau ít nhất 3 nhóm khớp trong số 14 nhóm: ngón tay gần, bàn ngón tay, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân (2 bên = 14)- Sưng đau 1 trong 3 khớp của bàn tay: ngón gần, bàn ngón, cổ tay- Sưng khớp đối xứng- Có hạt dưới da

– Phản ứng tìm yếu tố thấp huyết thanh dương tính (Waaler-Rose +)

– Tốc độ máu lắng tăng

– Hình ảnh X quang điển hình

Tuyến cơ sở thiếu cận lâm sàng: có thể chẩn đoán có thể dựa vào các điểm sau:

– Phụ nữ 30-50 tuổi

– Viêm nhiều khớp xa gốc chi

– Khởi phát từ từ, tiến triển ít nhất 6 tuần

– Đau nặng vào ban đêm và cứng khớp buổi sáng

- Cứng khớp buổi sáng kéo dài < 30 phút- Tuổi > 50- Đau khớp gối- Sưng, đau nhưng không nóng, đỏ- Có tiếng lạo xạo khi vận động khớp

– X- quang có 3 dấu hiệu quan trọng:

  • Hẹp khe khớp hoặc đĩa đệm
  • Đặc xương dưới sụn
  • Gai xương ở mâm chầy, xương bánh chè, rìa khớp gối, thân đốt sống…

– Xét nghiệm, cận lâm sàng:

  • Công thức máu, tốc độ máu lắng: thay đổi không đáng kể
  • Yếu tố dạng thấp thường (-)
Điều trị - Điều trị triệu chứng: nhằm cải thiện triệu chứng viêm, giảm đau, duy trì khả năng vận động

  • Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs). Các thuốc kháng viêm ức chế chọn lọc COX2 được chọn lựa đầu tiên vì thường phải sử dụng dài ngày và ít có tương tác bất lợi với methotrexat: Celecoxib, Meloxicam, Etoricoxib. Các thuốc kháng viêm ức chế COX không chọn lọc: Diclofenac, Brexin (piroxicam + cyclodextrin)
  • Corticosteroids (Prednisolone, Prednisone, Methylprednisolone): Thường sử dụng ngắn hạn trong lúc chờ đợi các thuốc điều trị cơ bản có hiệu lực. Chỉ định khi có đợt tiến triển
  • - Điều trị cơ bản bằng các thuốc chống thấp làm thay đổi tiến triển của bệnh(DMARDs) để làm chậm hoặc làm ngừng tiến triển của bệnh, cần điều trị lâu dài và theo dõi các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng trong suốt thời gian điều trị: Methotrexat, Sulfasalazin, kết hợp: methotrexat với sulfasalazin và/hoặc hydroxychloroquine nếu đơn trị liệu không hiệu quả
  • Kết hợp methotrexate và thuốc kháng Interleukin 6 (tocilizumab) hoặc với một trong 3 loại thuốc kháng TNFα sau:Etanercept, Infliximab, Adalimumab
  • Hoặc kết hợp methotrexate và thuốc kháng lympho B (rituximab)

– Các điều trị phối hợp khác

  • Các biện pháp hỗ trợ: Tập luyện, hướng dẫn vận động chống co rút gân, dính khớp, teo cơ
  • Trong đợt viêm cấp: để khớp nghỉ ở tư thế cơ năng, tránh kê, độn tại khớp. Khuyến khích tập luyện ngay khi triệu chứng viêm thuyên giảm, tăng dần, tập nhiều lần trong ngày, cả chủ động và thụ động theo đúng chức năng sinh lý của khớp.
  • Phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, tắm suối khoáng, phẫu thuật chỉnh hình (cắt xương sửa trục, thay khớp nhân tạo khi có chỉ định).

– Phòng ngừa và điều trị các biến chứng của điều trị, các bệnh kèm theo

  • Viêm, loét dạ dày tá tràng: Phòng ngừa (khi có các yếu tố nguy cơ) và điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton, kèm thuốc điều trị Helicobacter Pylori (nếu có nhiễm HP).
  • Khi sử dụng cortisteroid bất cứ liều nào trên 01 tháng, cần bổ xung calcium, vitamin D để phòng ngừa loãng xương. Nếu bệnh nhân có nguy cơ loãng xương cao có thể sử dụng bisphosphonates. Khi đã có loãng xương, tùy theo mức độ loãng xương, tuổi, giới và điều kiện cụ thể của người bệnh mà lựa chọn các thuốc phù hợp (thường là bisphosphonate)
    + Thiếu máu: acid folic, sắt, vitamin B12…
- Điều trị không dùng thuốc: Chế độ sinh hoạt, ăn uống, tập luyện:

  • Giảm áp lực cho khớp, giảm cân nặng.
  • Tập cơ tứ đầu, tập vận động vừa sức, đều đặn, đi bộ đường bằng phẳng
  • Thay đổi các thói quen xấu làm tăng chịu lực của khớp (ngồi xổm, xách nặng…)
  • Tránh các động tác làm tăng áp lực cho khớp và cột sống
  • Giảm muối, đường, mỡ, tăng protid, calci và vitamin (rau xanh, trái cây)
  • Điều trị tích cực các bệnh lý xương khớp kèm theo
  • Sử dụng các biện pháp vật lý trị liệu và phục hồi chức năng (khi cần)

– Điều trị triệu chứng:

  • Thuốc giảm đau đơn thuần: Paracetamol, Tramadol, Paracetamol-Codein…
  • Thuốc chống viêm giảm đau (NSAID): Ưu tiên Meloxicam Celecoxib, Etoricoxib (ức chế chọn lọc COX- 2),ngoài ra có thể dùng Ibuprofen, Diclofenac
  • Tiêm thuốc kháng viêm nhóm steroid vào khớp được chỉ định khi có phản ứng viêm và tiết dịch nặng ở một hoặc hai khớp (phải chắc chắn loại trừ viêm khớp do vi khuẩn và lao trước khi tiêm). Nếu có nhiều dịch, trước khi tiêm phải chọc rút bớt dịch. Không tiêm quá 3 khớp một lần, một khớp tiêm không quá 3 lần. Không tiêm khi thoái hoá khớp nặng.

– Điều trị lâu dài:

  • Làm chậm quá trình thoái hóa và thay đổi cấu trúc của sụn khớp, cần được duy trì điều trị dài ngày
  • Cải thiện cấu trúc sụn khớp: Glucosamine Sulfate, Chondroitine Sulfate
  • Ức chế IL- 1: Diacerein
  • Acid Hyaluronic (Dịch khớp nhân tạo) tiêm vào khớp

– Phẫu thuật chỉnh hình: nội soi, tái tạo dây chằng, cắt xương, sửa trục, thay khớp nhân tạo (khi có chỉ định)

 

Ghi rõ nguồn http://benhtuoigia.com khi đăng tải lại bài viết này Link bài viết: Nhận biết viêm khớp dạng thấp và thoái hóa khớp

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>